Skip to main content
Quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 - 2020
-A A +A

Công khai kết luận thanh tra tại Sở Lao động, Thương binh và Xã hội

Ngày 22/6/2017 Chánh Thanh tra tỉnh đã ban hành Kết luận thanh tra số 69/KL-TTr thanh tra trách nhiệm của Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Lạng Sơn (Sở LĐ, TB&XH) trong việc thực hiện pháp luật về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, thời kỳ thanh tra từ ngày 01/01/2015 đến thời điểm thanh tra.

Kết luận thanh tra đánh giá những mặt được, mặt còn hạn chế thuộc trách nhiệm của Giám đốc Sở LĐ, TB&XH trong việc thực hiện pháp luật về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng.

1. Công tác thanh tra

1.1. Việc xây dựng và thực hiện kế hoạch thanh tra

Hàng năm Sở đã xây dựng kế hoạch thanh tra theo quy định tại Điều 36, Luật Thanh tra; kế hoạch thanh tra được xây dựng phù hợp với tình hình thực tế và biên chế của Thanh tra Sở. Từ năm 2015 đến 6/2017 Thanh tra Sở đã triển khai 12 cuộc thanh tra (01 cuộc thanh hành chính; 11 cuộc thanh tra chuyên ngành). Kết thúc 10 cuộc thanh tra, Giám đốc Sở đã ban hành kết luận thanh tra, yêu cầu các đơn vị chấn chỉnh, khắc phục hạn chế thiếu sót, ban hành các quyết định thu hồi tổng số tiền 39.646.800 đồng; Thanh tra Sở tiến hành xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 122.000.000 đồng.

Tuy nhiên, kết quả thanh tra cho thấy việc triển khai công tác thanh tra của Sở còn có hạn chế, cần nghiêm túc rút kinh nghiệm, chấn chỉnh khắc phục:

- Công tác khảo sát, xây dựng kế hoạch thanh tra chưa được thực hiện đầy đủ quy trình theo quy định tại Thông tư số 01/2014/TT-TTCP ngày 23/4/2014 của Thanh tra Chính phủ Quy định việc xây dựng, phê duyệt định hướng chương trình thanh tra, kế hoạch thanh tra dẫn đến kế hoạch thanh tra hàng năm phải có sự điều chỉnh; kế hoạch thanh tra chưa đề cập về nhiệm vụ thanh tra đối với các đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý của Giám đốc Sở về việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng và trách nhiệm tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý, tham mưu giải quyết đơn thư.

- Chưa thực hiện đầy đủ, đúng quy định về trình tự, thủ tục tiến hành cuộc thanh tra:

+ Có quyết định thanh tra chưa nêu đầy đủ căn cứ để tiến hành thanh tra. Việc xây dựng Kế hoạch tiến hành thanh tra của Đoàn thanh tra chưa đảm bảo quy định: có 02 đoàn thanh tra Trưởng đoàn thanh tra không xây dựng kế hoạch tiến hành thanh tra trình Giám đốc Sở phê duyệt; có cuộc thanh tra nội dung kế hoạch thanh tra chưa phân công nhiệm vụ thành viên Đoàn thanh tra.

+ Có cuộc thanh tra quá trình thanh tra không đảm bảo nguyên tắc quy định tại Điều 5, Thông tư số 05/2014/TT-TTCP ngày 16/10/2014 của Thanh tra Chính phủ Quy định về tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của Đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra (thanh tra doanh nghiệp không có trong danh sách kèm theo quyết định thanh tra).

+ Có 02 Đoàn thanh tra không có văn bản thông báo kết thúc thanh tra trực tiếp; 01 Đoàn thanh tra không mở Nhật ký Đoàn thanh tra; 05 Đoàn thanh tra chưa có báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ của thành viên Đoàn thanh tra; 02 Đoàn thanh tra  Nhật ký đoàn thanh tra ghi sơ sài; 03 Đoàn thanh tra chưa lập danh mục, hồ sơ thanh tra. Năm 2015 và 2016 các đoàn thanh tra không có quyết định về cử giám sát hoạt động Đoàn thanh tra theo quy định tại Thông tư số 05/2015/TT-TTCP.

- Chất lượng của Đoàn thanh tra còn chưa đáp ứng yêu cầu: Các cuộc thanh tra chưa thu thập đầy đủ tài liệu trong quá trình thanh tra để làm cơ sở kiểm chứng đối với những đánh giá, kết luận qua thanh tra; không có biên bản thông báo kết quả thanh tra để đối tượng thanh tra có ý kiến giải trình trước khi xây dựng báo cáo kết quả thanh tra. Một số Đoàn thanh tra, Báo cáo kết quả thanh tra chưa làm rõ được các yêu cầu của quyết định thanh tra, phần kết quả thanh tra đối với các nội dung theo Quyết định thanh tra, chỉ nêu được số liệu, chưa có đánh giá; không đánh giá tình hình chấp hành pháp luật về nội dung thanh tra theo như yêu cầu của Quyết định thanh tra; quá thời hạn báo cáo kết quả thanh tra sau khi kết thúc thanh tra trực tiếp theo quy định tại Điều 49, Luật Thanh tra.

- Việc áp dụng các quy định pháp luật về thanh tra chưa đầy đủ, một số cuộc thanh tra chuyên ngành quyết định thanh tra không nêu căn cứ Nghị định số 07/2012/NĐ-CP  ngày 09/02/2012 Quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành và không ghi thời hạn thanh tra theo quy định tại Điều 16, Nghị định số 07/2012/NĐ-CP (chỉ ghi thời gian thanh tra mỗi đơn vị là từ 01 đến 02 ngày làm việc); vì vậy thời gian công bố Quyết định thanh tra chuyên ngành chậm theo quy định tại Khoản 1 Điều 22 Nghị định số 07/2012/NĐ-CP.

1.2. Việc thực hiện các kết luận, quyết định xử lý sau thanh tra

Đối với các kết luận thanh tra do Giám đốc Sở ban hành, Thanh tra Sở chưa mở sổ theo dõi việc thực hiện kết luận theo quy định tại Thông tư số 01/2013/TT-TTCP ngày 12/3/2013 của Thanh tra Chính phủ Quy định về hoạt động theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra và Nghị định số 33/2015/NĐ-CP ngày 27/3/2015 của Chính phủ Quy định về việc thực hiện kết luận thanh tra, cần chấn chỉnh khắc phục.

2. Công tác tiếp công dân, xử lý giải quyết đơn thư

2.1. Công tác tiếp công dân

a) Về lãnh đạo, chỉ đạo công tác tiếp công dân:

Giám đốc Sở đã triển khai, quán triệt Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị, Luật Tiếp công dân, Nghị định số 64/2014/NĐ-CP của Chính phủ tới công chức, viên chức, người lao động các phòng chuyên môn và các đơn vị trực thuộc.

b) Việc thực hiện trách nhiệm tiếp công dân của Giám đốc Sở:

Sở đã bố trí nơi tiếp công dân và trang bị các điều kiện vật chất cần thiết để phục vụ công tác tiếp công dân, phân công công chức làm nhiệm vụ tiếp công dân, ban hành Nội quy tiếp công dân, ban hành Quy chế phối hợp giữa các phòng và các đơn vị trực thuộc Sở tham gia tiếp công dân tại nơi tiếp công dân của Sở. Tại nơi tiếp công dân đã niêm yết Nội quy, quy chế tiếp công dân và Thông báo lịch tiếp công dân định kỳ; mở Sổ tiếp công dân, Sổ theo dõi việc tiếp nhận, xử lý đơn thư và Sổ theo dõi giải quyết đơn thư nội bộ. Giám đốc Sở tiếp công dân định kỳ vào ngày 15 hàng tháng, sau các kỳ tiếp công dân đều ban hành thông báo kết luận chỉ đạo, giao nhiệm vụ để các phòng chuyên môn và đơn vị trực thuộc thực hiện.

Trong thời kỳ thanh tra Sở đã tiếp 249 lượt công dân đến phản ánh, kiến nghị và gửi đơn, trong đó Giám đốc Sở tiếp 09 lượt. Nội dung tiếp công dân chủ yếu liên quan đến lĩnh vực lao động - tiền lương - Bảo hiểm xã hội và các lĩnh vực khác thuộc chức năng quản lý của Sở.

c) Việc tổ chức tiếp công dân của các Trung tâm trực thuộc Sở:

Sở có 03 Trung tâm trực thuộc có trách nhiệm tổ chức tiếp công dân theo quy định tại Quyết định số 1656/QĐ-UBND ngày 21/10/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh (Dịch vụ việc làm, Bảo trợ xã hội, Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội), các đơn vị này đều đã ban hành Nội quy tiếp công dân, mở Sổ tiếp công dân, thông báo lịch tiếp công dân, phân công công chức tiếp công dân và theo dõi xử lý đơn. tuy nhiên việc bố trí nơi tiếp công dân của Trung tâm Dịch vụ việc làm chưa đảm bảo theo quy định, cần chấn chỉnh, khắc phục.

2.2. Việc tiếp nhận, xử lý đơn và kết quả giải quyết đơn thư

Trong thời kỳ thanh tra Sở đã tiếp nhận 286 đơn, trong đó đơn thuộc thẩm quyền giải quyết là 185 đơn (05 khiếu nại, 02 tố cáo, 178 đề nghị); đơn không thuộc thẩm quyền giải quyết là 101 đơn (34 khiếu nại, 02 tố cáo, 65 đề nghị) đã được xử lý theo quy định.

Năm 2015 số đơn phải xác minh, giải quyết: 86 đơn (02 khiếu nại, 02 tố cáo và 82 hỏi chính sách), kết quả giải quyết 84/86 đơn, đạt tỷ lệ 97,6%; năm 2016 số đơn phải xác minh, giải quyết: 84 đơn (02 khiếu nại và 82 kiến nghị, hỏi chính sách), kết quả giải quyết 81/84 đơn, đạt tỷ lệ 96,4%; năm 2017 số đơn phải xác minh, giải quyết 3 tháng đầu năm 2017: 15 đơn (01 khiếu nại và 14 hỏi chính sách), kết quả giải quyết 15/15 đơn, đạt tỷ lệ 100%.

Kết quả thanh tra cho thấy công tác xử lý, giải quyết đơn thư của Sở còn có hạn chế cần chấn chỉnh, rút kinh nghiệm:

- Một số đơn xử lý chưa đảm bảo thời gian theo quy định tại khoản 1, Điều 28, Luật Tiếp công dân.

- Việc ghi chép Sổ Tiếp nhận, xử lý đơn thư chưa đầy đủ; một số đơn chưa được phân loại đơn; không ghi đầy đủ kết quả giải quyết. Sổ theo dõi, giải quyết đơn thư không ghi đầy đủ nội dung. Sổ Tiếp công dân còn ghi nhầm giữa họ tên người tiếp công dân và họ tên của công dân, một số trường hợp chưa có ký xác nhận của công dân. Phần lớn vụ việc xử lý chưa ghi nội dung hướng dẫn trực tiếp hoặc hướng dẫn công dân đến cơ quan nào giải quyết.

- Một số đơn kiến nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền nhưng không có Phiếu đề xuất thụ lý đơn hoặc Phiếu chuyển và xử lý đơn chưa đúng với Mẫu số 01-XL theo khoản 1, Điều 21 Thông tư số 07/2014/TT-TTCP ngày 31/10/2014 của Thanh tra Chính phủ Quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh.

        - Việc giải quyết các đơn khiếu nại còn chưa đảm bảo quy trình giải quyết theo Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ  Quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính (04 vụ không có Phiếu đề xuất thụ lý giải quyết, Kế hoạch xác minh và Báo cáo kết quả xác minh của Tổ xác minh; 01 vụ không có quyết định xác minh nội dung khiếu nại; 01 vụ không có Biên bản tổ chức đối thoại với công dân trước khi ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại; 02 vụ Biên bản làm việc chưa có chữ ký từng trang của công dân và đóng dấu của cơ quan có thẩm quyền, một số văn bản đề cập trong Báo cáo nhưng hồ sơ không lưu).

- Có vụ việc được UBND tỉnh giao kiểm tra, xem xét chất lượng tham mưu còn hạn chế:

+ Hồ sơ giải quyết tố cáo của ông Lương Xuân Chè (thành phố Lạng Sơn): quy trình giải quyết chưa theo đúng Thông tư số 06/2013/TT-TTCP ngày 30/9/2013 của Thanh tra Chính phủ về Quy định quy trình giải quyết tố cáo (Phiếu đề xuất thụ lý giải quyết tố cáo chưa có phê duyệt của Lãnh đạo; không có Kế hoạch xác minh, Biên bản giao Quyết định về việc thụ lý giải quyết tố cáo và thành lập Tổ xác minh cho người bị tố cáo, Bản giải trình của người bị tố cáo; không công khai kết luận giải quyết tố cáo...).

+ Vụ việc bà Vũ Thị Hoa khiếu nại quyết định kỷ luật đối với người lao động, Sở được giao kiểm tra, xác minh từ năm 2013, nhưng phải báo cáo nhiều lần do nội dung báo cáo thẩm tra, xác minh sơ sài, không đúng quy trình, chưa phân tích rõ diễn biến sự việc (Báo cáo số 199/BC-SLĐTBXH ngày 21/10/2014, Báo cáo số 09/BC-SLĐTBXH ngày 11/3/2015), sau khi UBND tỉnh có ý kiến chỉ đạo, đến tháng 6/2015 báo cáo của Sở (số 18/BC-SLĐTBXH ngày 15/6/2015) mới được chấp nhận.

+ Vụ việc của ông Nguyễn Thanh Bình đề nghị giải quyết chế độ phục viên trợ cấp 01 lần phát sinh từ năm 2015. Sở LĐTB&XH đã có Công văn số 1001/SLĐTBXH-TTr ngày 20/10/2015 trả lời công dân; do việc xem xét, giải quyết đề nghị của công dân chưa đảm bảo vận dụng đầy đủ các chính sách, chế độ có liên quan để xử lý nội dung đề nghị của công dân, làm phát sinh khiếu nại. Mặc dù đến tháng 02/2017 Sở đã tham mưu báo cáo UBND tỉnh đề xuất giải quyết chế độ phục viên đối với ông Bình với số tiền là 32.670.000 đồng và ông Bình đã rút đơn khiếu nại nhưng Sở cần nghiêm túc rút kinh nghiệm..

3. Công tác phòng, chống tham nhũng

Hàng năm, Sở đã triển khai thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng (ban hành kế hoạch phòng, chống tham nhũng, triển khai công tác tuyên truyền pháp luật về PCTN; thực hiện chế độ báo cáo theo quy định); đã thực hiện công khai dự toán, phân bổ thu, chi ngân sách và số liệu quyết toán, niêm yết công khai các thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực quản lý theo quy định, xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn theo quy định. Tuy nhiên, kế hoạch thanh tra hàng năm chưa xây dựng cuộc thanh tra việc thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng, cần được rút kinh nghiệm.

3.1. Việc công khai, minh bạch đối với một số nhiệm vụ thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của Sở

Kết quả thanh tra trong lĩnh vực Người có công; lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; hướng dẫn đối với các doanh nghiệp trên địa bàn trong thực hiện chính sách lao động, tiền lương cho thấy, Sở đã ban hành và niêm yết công khai các thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực Người có công; lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; hướng dẫn đối với các doanh nghiệp trên địa bàn trong thực hiện chính sách lao động, tiền lương. Thực hiện đầy đủ, trách nhiệm quản lý nhà nước của Sở đối với các lĩnh vực trên.

Tuy nhiên còn có nội dung thực hiện chưa đảm bảo quy định, cần chấn chỉnh rút kinh nghiệm (thời gian lập dự toán kinh phí chưa đảm bảo thời gian và việc phân bổ, giao dự toán chưa đảm bảo về thời gian theo quy định tại Thông tư liên tịch số 47/2009/TTLT/BTC-BLĐTBXH ngày 11/3/2009 của Bộ Tài chính và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội); sau khi doanh nghiệp gửi hồ sơ Thỏa ước lao động tập thể và hồ sơ Nội quy lao động qua Bộ phận một cửa của Sở, Sở chưa có văn bản xác nhận việc gửi Thỏa ước lao động tập thể và Thông báo kết quả việc đăng ký bản Nội quy lao động của doanh nghiệp theo quy định tại Điều 75, Điều 122 Bộ Luật Lao động, cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.

3.2. Việc xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn

Kết quả thanh tra việc quản lý, sử dụng kinh phí chi thường xuyên quý IV năm 2015 và quý IV năm 2016 của Văn phòng Sở cho thấy: Một số khoản chi chưa đảm bảo đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục (hóa đơn bán hàng không ký tên người mua hàng; Hợp đồng dịch vụ ký sau khi diễn ra Hội nghị; chứng từ thanh toán tiền xăng dầu hóa đơn không có chữ ký người mua hàng; các biên bản đối chiếu công nợ không có chữ ký của đại diện bên mua...Một số chứng từ sửa chữa tài sản, thiết bị văn phòng, văn phòng phẩm, công tác phí giấy đề nghị không có chữ ký người đề nghị, hóa đơn mua hàng không có chữ ký người mua hàng, giấy đi đường không ghi nơi đi, nơi đến..); một số khoản thanh toán vượt định mức và không có trong Quy chế chi tiêu nội bộ với số tiền 17.160.180 đồng, tuy nhiên qua xem xét cho thấy chứng từ thanh toán đầy đủ, chi cho hoạt động chung, do đó không xử lý thu hồi nhưng cần nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm.

3.3. Việc thực hiện quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp, việc chuyển đổi vị trí công tác của công chức, viên chức                                                                                                               

Qua kiểm tra cho thấy, Sở đã thực hiện niêm yết công khai quy tắc ứng xử, nội quy, quy chế làm việc tại cơ quan theo quy định.

Hàng năm Sở đã xây dựng kế hoạch chuyển đổi vị trí công tác và ban hành Quyết định phê duyệt danh sách công chức, viên chức phải chuyển đổi vị trí công tác theo Nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ Quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức và Nghị định số 150/2013/NĐ-CP ngày 01/11/2013 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức; tuy nhiên việc xây dựng kế hoạch chưa chặt chẽ và việc thực hiện kế hoạch chuyển đổi vị trí công tác còn hạn chế: Năm 2015 theo quyết định phê duyệt danh sách công chức, viên chức phải định kỳ chuyển đổi vị trí công tác thì có 20 công chức, viên chức phải chuyển đổi vị trí công tác, thực tế trong năm chuyển đổi được 05/20 trường hợp; năm 2016 và năm 2017 kế hoạch không nêu số công chức, viên chức phải chuyển đổi vị trí công tác và Sở không ban hành quyết định phê duyệt danh sách công chức, viên chức phải định kỳ chuyển đổi vị trí công tác, cần được chấn chỉnh khắc phục.

3.4. Minh bạch tài sản, thu nhập

Sở đã thực hiện kê khai, công khai và báo cáo minh bạch tài sản, thu nhập của công chức, viên chức hàng năm theo quy định: Năm 2015 có 78 người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập, đã thực hiện kê khai 77/78 người (01 người là viên chức chưa thực hiện kê khai do đang đi đào tạo tiến sĩ tại Trung Quốc); Năm 2016 có 82 người phải kê khai, đã thực hiện kê khai 81/82 người (01 người là viên chức chưa thực hiện kê khai do đang đi đào tạo tiến sĩ tại Trung Quốc).

Kiểm tra 26 Bản kê khai tài sản, thu nhập năm 2016 của Sở cho thấy: 20/26 Bản kê khai không kê khai đầy đủ nội dung theo mẫu quy định tại Thông tư số 08/2013/TT-TTCP của Thanh tra Chính phủ Hướng dẫn thi hành các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập: như địa chỉ nhà, địa chỉ đất ở; kê khai cả con đã thành niên, không có ngày tháng năm của người ký nhận..., cần được rút kinh nghiệm, khắc phục.

3.5. Công tác bổ nhiệm cán bộ

Qua kiểm tra 11 hồ sơ bổ nhiệm cho thấy: công tác bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc thẩm quyền Giám đốc Sở cơ bản thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định và nằm trong quy hoạch. Tuy nhiên còn có hạn chế: Hồ sơ bổ nhiệm không có văn bản ý kiến của cấp ủy về nhân sự được đề nghị bổ nhiệm mà chỉ ghi ở sổ họp cấp ủy; một số trường hợp được bổ nhiệm chưa đảm bảo điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định tại Quyết định số 03/2009/QĐ-UBND ngày 23/3/2009 của UBND tỉnh về tiêu chuẩn trưởng phòng, phó trưởng phòng và tương đương thuộc sở, ban, ngành tỉnh, UBND huyện, thành phố Lạng Sơn (có 08 trường hợp thiếu trình độ trung cấp lý luận chính trị), cần được bổ sung.

4. Việc thực hiện các ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh về thanh tra, khiếu nại, tố cáo

Sở đã có cố gắng trong việc tham mưu giải quyết các vụ việc do tỉnh chuyển về. Tuy nhiên, trong thời kỳ thanh tra có vụ việc tham mưu giải quyết của Sở còn chậm, chất lượng còn hạn chế, chưa đảm bảo quyền lợi nên công dân tiếp tục có đơn gửi lên tỉnh như vụ bà Vũ Thị Hoa, vụ ông Nguyễn Thanh Bình.

5. Việc thực hiện chế độ báo cáo về công tác thanh tra, khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng và công tác xây dựng lực lượng

5.1. Việc chấp hành chế độ thông tin, báo cáo

Việc chấp hành chế độ thông tin báo cáo của Sở chưa đảm bảo thời gian quy định, chưa theo đúng hướng dẫn của Thanh tra tỉnh tại Văn bản số 109/TTr-NV.I ngày 12/5/2015; chưa lập đầy đủ các biểu mẫu theo quy định tại Thông tư số 03/2013/TT-TTCP ngày 10/6/2013 của Thanh tra Chính phủ.

5.2. Công tác xây dựng lực lượng

Thanh tra Sở được giao biên chế là 04 biên chế, đến thời điểm thanh tra biên chế của Thanh tra Sở có 04 biên chế; hiện nay Thanh tra Sở có Chánh Thanh tra, 02 Phó Chánh Thanh tra và 01 Thanh tra viên; 02 công chức đã được bồi dưỡng nghiệp vụ TTVC và 02 công chức đã được bồi dưỡng nghiệp vụ TTV; có 02 công chức được bổ nhiệm vào ngạch TTVC và 02 công chức được bổ nhiệm vào ngạch TTV. Việc thực hiện chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ công chức làm thanh tra được thực hiện đầy đủ theo quy định.        

Từ kết quả thanh tra nêu trên, Chánh Thanh tra tỉnh kết luận như sau:

1. Yêu cầu Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội:

- Tiếp tục tăng cường chỉ đạo công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng (nhất là các quy định về tiếp công dân, quy trình tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý đơn thư; quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo; quy trình tiến hành thanh tra); đảm bảo công tác tuyên truyền phải thiết thực, giúp cho cán bộ, công chức trong cơ quan nắm bắt kịp thời, đầy đủ các văn bản pháp luật.

- Tiếp tục tăng cường chỉ đạo công tác kiểm tra thường xuyên, đột xuất đối với việc thực hiện văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực công tác thuộc trách nhiệm quản lý của Sở.

- Chủ động chỉ đạo xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm trên cơ sở bám sát định hướng, hướng dẫn của Thanh tra tỉnh và điều kiện thực tế của cơ quan. Quan tâm chỉ đạo đối với tổ chức Thanh tra Sở trong việc thực hiện kế hoạch thanh tra đã được phê duyệt; chỉ đạo các Đoàn thanh tra thực hiện đúng trình tự, thủ tục tiến hành thanh tra theo quy định.

- Tiếp tục quán triệt, chỉ đạo tổ chức thực hiện nghiêm túc công tác tiếp công dân và xử lý đơn thư; thực hiện đầy đủ chế độ đối với cán bộ tiếp công dân, xử lý đơn thư theo đúng quy định; giải quyết kịp thời, đúng quy trình, đúng pháp luật đối với các vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị thuộc thẩm quyền và các vụ việc được giao tham mưu xác minh.

- Thực hiện đầy đủ trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác phòng, chống tham nhũng; xây dựng đầy đủ các kế hoạch liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng; tuân thủ các quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, đơn vị; thực hiện nghiêm túc các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn.

- Đối với Thanh tra Sở Lao động, Thương binh và Xã hội: Chánh Thanh tra Sở cần chủ động, tích cực hơn nữa trong việc phối hợp và tham mưu giúp Giám đốc Sở thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng theo quy định; chủ động, tích cực hơn trong việc phối hợp, trao đổi về nghiệp vụ với các Phòng nghiệp vụ của Thanh tra tỉnh.

2. Yêu cầu Phòng nghiệp vụ I, Phòng nghiệp vụ IV Thanh tra tỉnh: 

Tăng cường trách nhiệm trong việc theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn để Thanh tra Sở Lao động, Thương binh và Xã hội thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, nhất là trong tham mưu giải quyết đơn thư và thực hiện nhiệm vụ thanh tra theo thẩm quyền./.